This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

Cách sử dụng thuốc cho thủy sản

Thường ngày cá tôm khỏe mạnh nhưng ko giảm thiểu khỏi những mầm bệnh bám theo. do vậy tuy ao, đầm có tẩy dọn kỹ nhưng khi thả giống vào ao thì chính tôm cá giống sẽ có theo vào ao gần như mầm bệnh.
vì thế trước khi thả giống xuống ao chúng ta cần phải tiến hành các bước tẩy trùng bằng cách tắm cho tôm, cá trong dung dịch thuốc sở hữu một khoảng thời gian cố định để mang thể diệt được mầm bệnh mà không ảnh hưởng tới sức khỏe của tôm cá nuôi.
-Muối ăn nồng độ 2-4%.
-Sulfat đồng nồng độ 2-5 ppm
-Xanh melachite nồng độ 1ppm
-Treflan nồng độ 5ppm
-Formarlin nồng độ 25-30 ppm và 1 số cái thuốc kháng sinh khác…
thời gian tắm cho cá khoảng từ 5-10 phút, vừa tắm vừa kết hợp Quan sát những hoạt động sống của tôm, cá để dừng tắm và cho cá xuống ao.
Đối mang những ao nhỏ, trong giai đoạn nuôi nếu phát hiện trong ao mang bệnh chúng ta có thể tiêu dùng cách thức phun trực tiếp. Phun thuốc xuống khắp ao sở hữu nồng độ bằng 1/10 nồng độ được dùng để tắm. sở hữu nồng độ tương tự cá tôm với thể sống thường ngày, nhưng đông đảo các mầm bệnh sẽ bị tiêu diệt.
hai. Tẩy trùng thức ăn
- Thức ăn là động vật: cá con, ốc ruốt, mòi… rẻ nhất là chiếc bỏ những thức ăn hư thối.
- Thức ăn là thực vật: chọn những dòng còn tươi, không dập nát sở hữu thể ngâm trong dung dịch muối ăn 2-3‰hoặc clorua vôi 6ppm trong khoảng 20-30 phút, sau ngừng thi côngĐây vớt cho cá ăn.
- Đối với các loại phân hữu cơ cần ủ kỹ có vôi hàm lượng 1%.
3. Tẩy trùng nơi cho ăn
Trong những ao, đầm, lồng bè nuôi tôm cá dùng vôi hoặc clorua vôi treo những túi ở tiếp giáp với chỗ cho ăn để diệt trùng. Đối mang vôi treo túi 2-4kg, sở hữu clorua vôi hàng ngày tiêu dùng khoảng 100-200g đóng vào 2-3 túi treo quanh đó chỗ cho ăn.
4. Tẩy trùng công cụ
các công cụ lưới, chài, quần, áo mặc lúc lội ao đều phải xử lý qua clorua vôi với nồng độ 200 ppm chí ít là 1 giờ mới được đưa sang ao khác. khiến như vậy sẽ ngăn chặn được sự lây lan của bệnh. Điều này cần phải thực hành nghiêm ngặt, nhất là đối mang những ao phân bố trong vùng đang mang dịch bệnh xuất hiện.

Mô hình nuôi thủy sản ở gia đình

Ao, hồ có tác dụng như 1 mặt gương, là nơi tích nhiệt và trữ năng lượng, một vùng chống ô nhiễm, một hệ thống vận tải, một hệ thống phòng chống hỏa, nơi giải trí, 1 công trình tưới nước và là 1 hạ tầng cung cấp.
Ao, hồ nuôi trồng thủy sản với tiềm năng và hiệu suất cao hơn đất trồng trọt, luôn phân phối nước và chất dinh dưỡng cho nhiều loài cây và động vật sử dụng trong gia đình hoặc bán ra thị phần. 1 tổ hợp cá, tôm, trai, ốc, cây thủy sinh sở hữu thể cộng vững mạnh trong một hệ thống ao gia đình.
Ao trong gia đình thường mang diện tích nhỏ khoảng 20-300 m2. những hộ thầu diện tích mặt nước công cộng thường mang ao, hồ cung cấp rộng hơn rộng rãi. Tùy thuộc vào diện tích ao mà xác định mục đích phân phối và chiếc thủy sản. các ao nhỏ (< 30 m2) mang thể dùng để xây bể nuôi ba ba, rắn, ếch hoặc thả các loại cá chuyên dụng cho cho gia đình. Ao trong khoảng 50 m2 trở lên với thể nuôi thả những dòng cá có trị giá bán ra thị phần.


lúc tăng trưởng ao cá gia đình nên tiêu dùng lợi thế đa canh. mặc dù mỗi hệ thống sản xuất thủy sản đều hướng về một sản phẩm chính (một mẫu cá, tôm, ếch, v.v.), nhưng điều quan trọng là phải phối hợp mục tiêu chậm triển khai có việc tăng trưởng những loài thủy sản khác nhằm tận dụng các ổ sinh thái trong ao để hỗ trợ cho cung ứng chính của ao.

Xu hướng thủy sản sạch

Theo ông Ngô Tiến Chương: “Hiện nay, người tiêu dùng trên thế giới có xu hướng sử dụng các sản phẩm nuôi trồng được sản xuất có trách với môi trường và xã hội hay thủy sản “sạch”. Họ sẵn sàng chi trả cao hơn cho các sản phẩm này và một phần lợi nhuận này được trích ra để tái đầu tư cho dịch vụ từ môi trường và xã hội.
Đơn giản như, khi chúng ta bỏ tiền ra mua một sản phẩm, chúng ta luôn quan tâm đến sản phẩm đó được sản xuất từ đâu, như thế nào, có đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm hay không? Tương tự, người tiêu dùng các sản phẩm thủy sản cũng thế, đặc biệt là người tiêu dùng tại các nước phát triển đều rất quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của sản phẩm, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và sản phẩm đó liệu có được sản xuất một cách có trách nhiệm hay không?”.
Để sản xuất thủy sản “sạch”, theo ông Chương, điều này cần cả một quá trình sản xuất chuẩn, đáp ứng nhiều yêu cầu. Hiện, tất cả các tiêu chuẩn cho ngành nuôi trồng thủy sản đều được xây dựng dựa trên các tiêu chí nhằm đảm bảo sản phẩm được sản xuất có trách nhiệm. Có thể nói, căn bản nhất vẫn dựa trên một số yếu tố như: Đầu vào sản xuất phải đáp ứng được các yêu cầu như con giống, thức ăn; sản xuất phải phù hợp với điều kiện môi trường để bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái quan trọng xung quanh nhằm đảm bảo trách nhiệm với môi trường và xã hội; Hệ thống xử lý nước xả thải phải đạt yêu cầu.
“Nút thắt” cần được tháo gỡ

Trong thời gian qua, ngành sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể. Theo đó, mục tiêu tổng quát của ngành thủy sản là tiếp tục phát triển xuất khẩu theo hướng bền vững, nâng cao khả năng cạnh tranh, giữ vị trí trong nhóm 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Phát triển xuất khẩu vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển nuôi trồng, khai thác và dịch vụ thủy sản, góp phần ổn định và từng bước nâng cao thu nhập cho nông, ngư dân.

Nuôi tôm theo công nghệ semi biofloc

Tình dịch bệnh hoại tử gan tụy trên tôm nuôi diễn biến phức tạp, diện tích tôm bệnh tăng ở một số vùng, giảm ở phổ thông vùng thực hiện rẻ những chỉ dẫn, quy định của cơ quan điều hành chuyên lĩnh vực, diện tích tôm bệnh 159,9 ha, chiếm 7,01% diện tích nuôi, trong đó: thị xã Sông Cầu 18,4 ha, thị xã Tuy An 29,5 ha, Đông Hòa 112 ha. Diện tích tôm bệnh năm nay đã giảm hơn 34,18% so năm 2012 ( Năm 2012: Diện tích tôm nuôi: 2.112 ha, diện tích tôm bệnh: 870,1 ha)

Trước tình hình trên, để tiếp tục khống chế dịch bệnh, được sự giúp đỡ của đơn vị CP công nghệ sinh vật học Phú Mỹ An TP HCM, Trạm Khuyến nông – Khuyến ngư TP Tuy Hòa, Trạm Khuyến nông – Khuyến ngư huyện Đông Hòa rộng rãi hộ dân đã mạnh bạo vận dụng thứ tự nuôi tôm theo khoa học Semi Biofloc ( làm sạch, ổn định môi trường bằng vi tảo và hệ thống biofloc ) đạt hiệu quả cao, ổn định, tiêu biểu mang thể nói đến hộ ông Lê Thanh Hải – nguyên thanh niên Xung phong Công trường 26/3 huyện Sông Hinh, tỉnh Phú im, sau khi phục viên về nuôi tôm ở phố Hòa Hiệp Nam, thị xã Đông Hòa, số ao nuôi: 02 ao, diện tích: 9.660 mhai, trong đó: 01 ao diện tích 5.960 m2, 1 ao diện tích 3.700 m2.

Chất lượng nước ảnh hưởng đến thủy sản

Chất lượng nước là yếu tố khôn xiết quan trọng trong nuôi thủy sản; nhưng khó dự báo và khó kiểm soát. Chất lượng nước quyết định hiệu quả của thức ăn, tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của con nuôi. Con nuôi chết, bệnh, chậm to, hay thức ăn kém hiệu quả đều do chất lượng nước. các nhà nuôi tôm to thuờng nói: "Nuôi tôm tức thị nuôi nước". Để con nuôi lớn mạnh bình thường thì nước phải sạch, không bị ô nhiễm. Chất lượng nước phụ thuộc vào chất lượng nguồn nước, chất đất, chế độ cho ăn, thời tiết, kỹ thuật và chế độ điều hành đầm nuôi. Chất lượng nước được đánh giá bằng rộng rãi tham số sinh, hóa, lý khác nhau; và cần được kiểm tra liên tiếp để mang thể xử lý nước kịp thời để kiểm soát an ninh con nuôi.
một. Chất lượng nước và chất đất
Đất phèn với tính axit, pH rất dễ xuống thấp nên không có lợi cho tôm cá. cho nên giả dụ sở hữu thể, nên giảm thiểu đất phèn nặng. Vùng đất ven biển mang nước chè hai và nước mặn, thuận tiện cho nuôi tôm nhưng thường là đất phèn. Để hạn chế ảnh hưởng của phèn thì phải sở hữu bí quyết bề ngoài ao tôm phù hợp và chế độ quản lý nước thích hợp. Muốn vậy thì trước lúc đào ao, nên biết rõ chất lượng đấtvà chiều sâu những lớp đất. Việc Phân tích chất đất vừa giúp đưa ra cách thức ngoài mặt ao sao cho giảm ảnh hưởng của phèn, vừa giúp tính lượng hóa chất cần thiết để cải tạo đất, nhờ ngừng thi công Đây tiết kiệm đa dạng giá bán.
hai. Nhiệt độ
Nhiệt đô ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của con nuôi. Nhiệt độ rẻ nhất cho tôm là 26 - 32°C. Cần chú ý lúc nhiệt độ tăng trên 32°C. Ở nhiệt độ 35°C, 100% tôm dưới một tháng tuổi chết; trên 40°C thì rất nhiều tôm sẽ chết. Nhiệt độ tốt thì tôm sẽ chậm lớn.

kiểm tra nhiệt độ bằng nhiệt biểu. các máy đo pH, độ muối, DO đều sở hữu chức năng đo nhiệt độ.

Dự báo thời tiết nuôi tôm

Nhiệt độ:
Do ảnh hưởng của El Nino cường độ mạnh. 90% khả năng El Nino sẽ kéo dài đến hết mùa đông 2015 - 2016 và khoảng 85% khả năng sẽ kéo dài tới hết mùa xuân 2016. Nhiệt độ làng nhàng trong năm có khuynh hướng cao hơn nhàng nhàng phổ biến năm từ 0,5 – một,50C. Trong các tháng chính mùa đông (tháng 12/2015-2/2016 ) nhiệt độ có xu thế cao hơn trung bình đa dạng năm (khoảng 23-240C). bên cạnh đó, vẫn mang thể xuất hiện những đợt tập hợp lạnh trong một thời đoạn khoảng 4 – 7 ngày. Đầu tháng 3 nhiệt độ sẽ tăng lên và cực điểm cao nhất vào cuối tháng 4, kéo dài đến đầu tháng 6/2016 có nhiệt độ khoảng 35-370C.
Tình hình mưa:
- thời kỳ chấm dứt mùa mưa: Mùa mưa năm 2015 với khả năng chấm dứt sớm hơn so với TBNN (trong tháng 11). Do mùa mưa chấm dứt sớm nên độ mặn sẽ nâng cao nhanh, thâm nhập mặn tại những vùng ven biển xuất hiện sớm, vào sâu trong lục địa. tác động đến khả năng thiếu nguồn nước ngọt cấp cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Cụ thể như sau:
- các vùng cách thức biển 25-35km: trong khoảng tháng 12/2015 mặn sở hữu khả năng vượt quá 4 g/l, từ tháng 1-2/2016 trở đi, các vùng này sắp như chơi có khả năng lấy nước ngọt;
- những vùng bí quyết biển 45 - 65 km: từ tháng 1/2016 tới tháng 4-5/2016 có khả năng bị mặn cao (>4g/l) thâm nhập. ví như mùa mưa tới chậm, xâm nhập mặn mang thể kéo dài đến tháng 6/2016. Trong công đoạn này, vào các đợt triều cường, mặn sẽ xâm nhập sâu (trong một ngày, đỉnh triều có thể mặn tương đối cao, nhưng chân triều có thể độ mặn phải chăng, sở hữu thể lấy nước).
- các vùng bí quyết biển xa hơn 65-70 km tuy ít gặp xâm nhập mặn 4g/l, nhưng cũng cần chú ý ngừa trong những đợt triều cường.
Thuỷ văn:
- Đỉnh triều cao nhất trong năm xuất hiện từ tháng 10/2015 tới tháng 01/2016, tại trạm Năm Căn trên sông Cửa lớn với khả năng trong khoảng 1,55m – một,65m ở mức xấp xỉ năm 2014, tại trạm Sông Đốc trên sông Ông Đốc trong khoảng 0,9m – 1,0m xấp xỉ năm 2014 và trên sông Gành Hào tại thị thành Cà Mau trong khoảng 0,8m – 0,9m cao hơn năm 2014. ngừa những đợt triều cường cuối năm trùng mang thời gian gió mùa đông bắc hoạt động mạnh, mực nước triều sở hữu thể dâng cao bất thường và diễn biến phức tạp.
- Do thời kỳ cuối mùa giảm mưa nên độ mặn nước sông nâng cao trở lại, tại Cà Mau độ mặn sẽ đạt trung bình 10-12 ‰ vào cuối tháng 11/2014. từ tháng 12/2014 độ mặn khởi đầu nâng cao nhanh và tiếp diễn tăng đạt trị số cao nhất vào khoảng cuối tháng 4-6/2016 sẽ ở mức trên 32‰.


Chữa bệnh cho tôm phương pháp kinh tế

gần đây, 1 nông dân ở phường Vinh Xuân, thị xã Phú Vang, Thừa Thiên Huế, đã dùng tỏi - 1 vị thuốc dân gian để phòng bệnh cho tôm và mang lại hiệu quả cao.
Vụ nuôi tôm đầu tiên của năm nay, hồ hết 100% tôm đã thả nuôi của thị trấn Vinh Xuân đều bị chết, sở hữu tổng diện tích hơn 100 ha tôm mất trắng. nguyên nhân là do dịch bệnh lây lan nhanh qua nguồn nước, nên đông đảo những hộ đều thiệt hại. Thường thì các hộ nuôi dùng những chiếc kháng sinh với sẵn trên thị phần để phòng và trị bệnh cho tôm, nhưng hiệu quả ko cao, hàng năm vẫn thua lỗ hàng chục tỉ đồng.
Riêng gần 1 ha hồ tôm của gia đình ông Lê Đức Xuân vẫn cho năng suất cao, trừ mức giá lãi hơn 23 triệu đồng. đến vụ hai, tình hình lặp lại tương tự. Điều này đã phát triển thành 1 kỳ tích đối với các hộ cùng làm cho nghề. Chuyện lạ ngừng thi côngĐây tính từ lúc việc ông Xuân phát sinh ý tưởng tiêu dùng tỏi để phòng bệnh cho tôm. nhắc về sáng kiến của mình, ông Lê Đức Xuân cho biết: “Cái gì trong dân gian trị được cho người thì cũng với thể tiêu dùng được cho vật nuôi, xuất phát từ ý tưởng ngừng thi côngĐây tôi nghiên cứu và bắt đầu bỏ hoang cho tôm ăn thuốc, vì thuốc có lợi trước mắt nhưng mang hại về sau, mà tôi cho ăn tỏi. thời gian tôi ở trong rừng mỗi lần bị cảm cúm đều ăn tỏi để trị cảm cúm, trị môi trường non sông, nên lần này tôi làm thử”.
lúc tôm bị bệnh, gia đình ông Xuân đã thử khiến cho thuốc kháng sinh bằng tỏi cho tôm ăn. Khâu chế biến cũng không phức tạp lắm, củ tỏi được bóc sạch vỏ, giã nhuyễn, đem bác bỏ vàng với dầu thực vật, theo tỷ lệ: 1 kg tỏi cùng có 1 lít dầu ăn, rồi đem trộn có 15 kg thức ăn của tôm, để 1 thời kì nhất thiết cho hợp chất trên ngấm đều, sau ngừng thi côngĐây cho tôm ăn bí quyết quãng trong 5 bữa. Thường thì, chỉ cho tôm ăn thức ăn mang trộn tỏi từ từ 7 đến 10 hôm, là lâm thời nghỉ mang thời gian tương đương, sau Đó lại tiếp diễn. Cứ như thế, vừa khiến cho vừa rút kinh nghiệm, ông Xuân đã tự lập được pháp đồ phòng và trị bệnh cho tôm bằng tỏi. Phòng bệnh cho tôm bằng tỏi mang giá tiền rẻ hơn nhiều so với tiêu dùng thuốc.



Mô hình nuôi ghép loại thủy sản đạt được

Những thủy vực nội đồng rộng to sở hữu phổ quát ao hồ, khe suối, bàu nước tình cờ và nhân tạo. Người dân địa phương với truyền thống nuôi thả tôm cá, với bản chất chuyên cần coi ngó ao vườn khi nông nhàn để cải thiện đời sống kinh tế của mình. Nhằm phát huy truyền thống nuôi thả và tiêu dùng thấp tiềm năng mặt nước, từng bước giảm bớt dịch bệnh bùng phát trong những ao nuôi, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để thực hiện mô hình nuôi ghép những loài thủy đặc sản và gần gũi có môi trường, trung tâm vận dụng Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ thuộc Sở khoa học và khoa học Thừa Thiên Huế đã vun đắp Công trình “Xây dựng mô phỏng nuôi ghép đa dạng giống loài thủy sản theo hướng sinh thái tại thị xã Hương Thủy, thức giấc Thừa Thiên Huế”.
Đây là Công trình hết sức thiết yếu và khả thi nhằm ứng dụng tổng hợp những tiến bộ khoa học, vun đắp thành công mô phỏng nuôi ghép phổ quát giống loài thủy đặc sản tại thị xã Hương Thủy, tỉnh giấc Thừa Thiên Huế, làm cho cơ sở vật chất cho việc chuyển đổi lĩnh vực, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần tăng trưởng kinh tế-xã hội chung của tỉnh giấc.
Sau hơn một năm thực hành, Công trình đạt được kết quả đáng phấn khởi, được cơ quan quản lý về kỹ thuật và kỹ thuật đánh giá cao, được chính quyền địa phương và người dân vùng Công trình hoan nghênh, tích cực tham gia.
Theo chiến lược, quy hoạch và kế hoạch tăng trưởng kinh tế-xã hội huyện Hương Thủy đến năm 2020, việc đẩy mạnh vững mạnh thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng giá trị và hiệu quả trên 1ha đất canh tác. Khai thác tiềm năng diện tích mặt nước và ruộng trũng để nuôi trồng thủy sản nước ngọt sở hữu phổ thông hình thức chuyên canh, xen canh, luân canh cá-lúa. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu cơ nuôi trồng thủy sản. tăng nhanh diện tích nuôi chuyên cá, phối hợp lúa-cá và phát triển nuôi thủy sản nước ngọt theo hướng thâm canh năng suất cao quy mô nông trại.
 

Nuôi cá hiệu quả kinh tế

hạn chế thiệt hại do bệnh gan thận mủ trên cá tra
Nuôi cá tra vận dụng khoa học "3 giảm 3 tăng"
dùng luân trùng nâng cao tỷ lệ sống trong ương nuôi cá tra giống
Nuôi theo Vietgap là hướng đi của hộ nuôi cá tra công nghiệp
Hướng đến công nghệ nuôi cá tra đương đại
Qui trình nuôi cá tra làm thịt trắng
Kinh nghiệm nuôi cá tra làm thịt trắng
các điều kiện tiện lợi để tăng trưởng nghề nuôi cá tra và basa trong bè
Kĩ thuật nuôi cá tra và cá basa trong bè: Bè nuôi cá
Kĩ thuật nuôi cá tra và cá basa trong bè: Giống và chọn giống
Kĩ thuật nuôi cá tra và cá basa trong bè: Mùa vụ nuôi và cách thức cho ăn
Bảo quản tinh cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) dài hạn bằng nitơ lỏng
cách thức ương cá tra bột nhân tạo
Nuôi cá tra sạch
Nuôi cá tra, basa sạch trong bè
Nuôi cá tra trong ao
Nuôi cá tra, basa ở miền bắc
Phòng và trị bệnh gạo trên cá tra
Tiêm vắc xin cho cá tra
một số bệnh thường gặp và bí quyết phòng trị khi nuôi cá tra và cá basa trong bè
Phòng trừ những bệnh thường gặp ở cá tra, basa
Trị bệnh cụt vây, cụt đuôi cá ba sa nuôi trong bè

kiểm soát an ninh sức khỏe cá tra nuôi trong mùa mưa

Nuôi tôm sú càng xanh hiệu quả


Tôm càng xanh (tên công nghệ Macrobrachium rosenbergii), còn gọi là tôm lớn nước ngọt hay tôm Malaysia (theo cách thức gọi của người Âu-Mỹ), là một loài tôm nước ngọt mang nguồn gốc ở vùng thái bình Dương – Ấn Độ Dương và bắc Úc. Loài này (cũng như những loài khác thuộc chi Macrobrachium) có tầm quan yếu thương mại nhờ những trị giá dinh dưỡng của nó như là một nguồn thực phẩm với giá trị.

trong khi loài này được coi như 1 loài động vật thân giáp nước ngọt thì quá trình ấu trùng của nó lại phụ thuộc vào độ lợ của nước. khi nó chuyển qua công đoạn như là sinh vật phù du và trưởng thành thì nó lại hoàn toàn sống trong nước ngọt.

Loài tôm này sở hữu thể lớn mạnh đến độ dài sắp 30 cm (1 ft) và nặng đến trên dưới một kg

Ông Danh Hiền ở phường Hòa Chánh, U Minh Thượng bạo dạn ứng dụng mô phỏng này cho biết: “Muốn nuôi ghép tôm sú có tôm cành xanh đầu tiên phải bề ngoài lại ruộng nuôi thành 2 ao, ao to để thả nuôi và ao nhỏ để vèo tôm giống. Tôm cành xanh giống sau lúc sắm về thả trong ao vèo khoảng 1,5 tháng, cho ăn thức ăn công nghiệp. song song cải tạo ao lớn để thả tôm sú giống. khi tôm sú được khoảng một,5 tháng, tiến hành thả tôm càng xanh lên ruộng để nuôi chung”.


Theo ông Hiền, tôm sú sở hữu tốc độ lớn nhanh hơn tôm càng xanh nên sở hữu thể nuôi chung, không sợ hao hụt. Cũng sở hữu thể nuôi tôm càng xanh chung có tôm thẻ chân trắng, nhưng cần thả tôm càng xanh trước khoảng 1,5 – 2 tháng mới tiến hành thả tôm thẻ chân trắng.